Hoạt động đào tạo và bồi dưỡng của Học viện
Xây dựng đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư, Chấp hành viên, Công chứng viên và các chức danh tư pháp khác có phẩm chất chính trị và đạo đức, chí công vô tư, có nghiệp vụ vững vàng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc cải cách tư pháp. Với mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh trong đó chú trọng tới công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp tư pháp theo các chức danh, ngày 25 tháng 02 năm 2004 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 23/2004/QĐ-TTg về việc thành lập Học viện Tư pháp và giao cho Học viện chức năng đào tạo nghiệp vụ thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư, chấp hành viên, công chứng viên và các chức danh tư pháp khác; Bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho chấp hành viên, công chứng viên, luật sư và cán bộ có chức danh tư pháp khác thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tư pháp.
Quy mô đào tạo, bồi dưỡng
Theo Quyết định số 1269/QĐ-TTg ngày 18/11/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án thành lập Học viện Tư pháp, Học viện Tư pháp có quy mô đào tạo, bồi dưỡng như sau:
- Quy mô đào tạo giai đoạn từ năm 2004 đến hết năm 2006:
Đào tạo thẩm phán: 500 người/ năm;
Đào tạo kiểm sát viên: 200 người/ năm (tăng lên đến 300 người/năm kể từ năm 2005 trở đi);
Đào tạo luật sư: 2.000 người/năm;
Đào tạo chấp hành viên: 300 người/năm;
Đào tạo công chứng viên:100 người/năm.
- Quy mô đào tạo giai đoạn từ năm 2007 trở di:
Đối với chương trình chung cho thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư: Đào tạo 2.500 người/năm;
Đối với các chức danh tư pháp khác: Đào tạo 1.000 người/năm và có thể nghiên cứu đào tạo các chức danh trọng tài viên, giám định viên.
Quy mô bồi dưỡng được thực hiện trên cơ sở kế hoạch bồi dưỡng cán bộ hàng năm của Bộ Tư pháp.
Nguyên lý đào tạo
Trong quá trình trưởng thành và phát triển của mình Học viện Tư pháp đã xây dựng và đúc kết được những nguyên lý đào tạo rất hữu ích trong công tác đào tạo và bồi dưỡng các chức danh tư pháp. Những nguyên lý này đã trở thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình giảng dạy, xây dựng chương trình, giáo trình, hồ sơ tài liệu phục vụ giảng dạy và các hoạt động có liên quan đến công tác đào tạo và bồi dưỡng các chức danh tư pháp của Học viện cụ thể như sau:
- Không giảng lý thuyết thuần tuý mà chỉ cập nhật kiến thức mới;
- Sử dụng hồ sơ thực tế để rèn luyện kỹ năng và nhắc lại lý thuyết;
- Học bài thông qua diễn án – “simulation”
- Học bài thông qua làm công việc thực tế – “learning by doing” tại Trung tâm thực hành nghề luật của Học viện;
- Học bài thông qua quá trình làm bài thi;
- Rèn luyện kỹ năng nói thông qua thi hùng biện;
- Rèn luyện kỹ năng viết thông qua viết tiểu luận, soạn thảo văn bản tố tụng.
Nội dung chương trình, giáo trình và tài liệu giảng dạy
Chương trình, nội dung đào tạo các chức danh tư pháp không đặt ra vấn đề đào tạo lại kiến thức pháp lý cơ bản đã được đào tạo ở chương trình đào tạo Cử nhân luật mà tập trung vào đào tạo kỹ năng nghề nghiệp thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư, chấp hành viên, công chứng viên, và các chức danh tư pháp khác. Trong chương trình đào tạo đặc biệt chú trọng rèn việc luyện bản lĩnh và đạo đức nghề nghiệp cho học viên. Học viên chủ yếu được học về cách phân tích, xử lý và giải quyết các tình huống thực tế; rèn luyện khả năng tự chủ và độc lập trong việc giải quyết các công việc của nghề nghiệp mà mình đang theo học. Để sự hiểu biết của học viên được toàn diện, học viên còn được thường xuyên cập nhật các kiến thức mới về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội...trong nước và thế giới .
Cơ cấu chương trình đào tạo:
Phần 1: Chương trình đào tạo theo chuyên đề, bao gồm các chuyên đề có liên quan đến từng chức danh, chiếm 20% tổng số đơn vị học trình. Trong 20% đó có 50 % đơn vị học trình dành cho việc giảng dạy về đạo đức cho các chức danh tư pháp.
Phần 2: Chương trình đào tạo kỹ năng, bao gồm các môn học liên quan đến kỹ năng, nghiệp vụ của từng chức danh, chiếm 50% tổng số đơn vị học trình;
Phần 3: Chương trình thực tập và thi tốt nghiệp, chiếm 30% tổng số đơn vị học trình.
Chương trình khung
Hiện nay, Học viện Tư pháp phố hợp với các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp xây dựng chương trình khung đào tạo cho các chức danh tư pháp, trong đó áp dụng chương trình đào tạo chung đào tạo thẩm phán, kiểm sát viên.
Chương trình bồi dưỡng
Nội dung chương trình bồi dưỡng của Học viện tư pháp được xây dựng theo yêu cầu của từng khoá học, bao gồm:
- Kiến thức pháp luật, kiến thức và kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ;
- Chính sách, nội dung văn bản pháp luật mới và kỹ năng áp dụng;
- Kiến thức về tin học, ngoại ngữ và các kiến thức bổ trợ khác.
Công tác biên soạn giáo trình, hồ sơ, tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập
Xuất phát từ yêu cầu của công tác đào tạo và bồi dưỡng, Học viện đặc biệt quan tâm đến công tác biên soạn giáo trình, xây dựng hồ sơ, tài liệu phục vụ giảng dạy học tập. Đến nay Học viện Tư pháp đã: Xuất bản lần thứ 2 bộ giáo trình đào tạo Thẩm phán; Xuất bản 04 Tập bài giảng kỹ năng hành nghề Luật sư; Xuất bản Chương trình đào tạo Thẩm phán; Xuất bản Tập bài giảng nghiệp vụ Chấp hành viên; Xuất bản Giáo trình nghiệp vụ Công chứng viên; Xuất bản Sổ tay Luật sư, Sổ tay Thẩm phán, Sổ tay Hội Thẩm; Xuất bản Ngân hàng đề thi môn kỹ năng giải quyết các vụ án Kinh tế và Ngân hàng đề thi môn kỹ năng giải quyết các vụ án dân sự cho đào tạo Thẩm phán; Xuất bản Bộ phiếu kỹ thuật kỹ năng xét xử; Biên tập 449 bộ hồ sơ tình huống và đã nhân bản thành 60. 500 bản để phục vụ cho công tác đào tạo và bồi dưỡng các chức danh tư pháp; Xuất bản thường kỳ Đặc san Nghề luật.
Phương pháp giảng dạy
Là một loại hình đào tạo mới ở nước ta, trên cơ sở những nguyên lý đào tạo đã nêu trên phương pháp giảng dạy trong đào tạo thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư, chấp hành viên và các chức danh Tư pháp khác của Học viện Tư pháp lấy việc truyền nghề, cung cấp và rèn luyện các kỹ năng nghề nghiệp cần thiết của hoạt động tư pháp cho học viên làm mục tiêu. Vì thế việc tổ chức học tập có nhiều điểm khác biệt so với đào tạo ở bậc đại học. Các lớp học được chia nhỏ để thuận tiện cho việc rèn luyện kỹ năng. Trung bình một lớp không quá 25 người. Phương pháp giảng dạy cũng hoàn toàn khác so với đào tạo ở bậc đại học. Ở bậc đại học, giảng viên chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình do một giảng viên thực hiện còn ở Học viện Tư pháp chủ yếu áp dụng phương pháp: Song giảng, giảng bằng phiếu kỹ thuật và giải quyết tình huống (một giảng viên lý thuyết và một giảng viên thực hành cùng giảng). Giảng viên đóng vai trò người hướng dẫn gợi mở cho học viên; nhận xét và tổng kết việc xử lý các tình huống, giải quyết các bài tập của học viên; rèn luyện khả năng tư duy độc lập cho học viên là chính. Học viên được rèn luyện kỹ năng giải quyết công việc và tác phong làm việc khoa học của người cán bộ tư pháp. Ngoài ra học viên còn được rèn luyện kỹ năng thông qua các buổi học diễn án. Đây là một phương pháp đào tạo hoàn toàn mới. Phương pháp này sử dụng các hồ sơ vụ việc thực tế để rèn luyện kỹ năng cho học viên.
Kiểm tra và thi đánh giá chất lượng
Kiểm tra và thi để đánh giá kết quả học tập về chuyên môn của học viên ở Học viện Tư pháp có sự khác biệt căn bản so với các cơ sở đào tạo pháp luật cơ bản khác cụ thể:
Đề kiểm tra và thi của Học viện lấy dữ kiện (tình huống) từ một vụ, việc mà học viên có chức danh tương ứng sẽ có thể phải giải quyết trong tương lai sau khi được bổ nhiệm làm nội dung cơ bản của đề. Sau đó trên cơ sở những dữ kiện cơ bản đó đề được phát triển bằng các tình tiết bổ sung và cứ sau một tình tiết bổ sung là một câu hỏi để học viên giải bài kiểm tra hoặc thi. Tổng hợp các dữ kiện cơ và các tình tiết bổ sung là hình ảnh một vụ, việc từ khi bắt đầu phát sinh đến khi kết thúc. Cách giải quyết vụ, việc khi làm bài của học viên sẽ phản ánh kết quả kiểm tra hoặc thi đúng sai đến đâu? đạt kết quả thế nào?;
Đề thi được xuất bản thành sách gọi là Ngân hàng đề thi theo từng môn học trong đó có cả đáp án của từng đề làm tài liệu cho học viên học tập và đối với học viên theo học ở Học viện thì khi kiểm tra và thi đề sẽ là một trong các trong Ngân hàng đề thi của môn học đó;
Khi tham gia kiểm tra và thi học viên được sử dụng tất cả các văn bản pháp luật có liên quan đến môn học đó và Giáo trình của Học vịên để giải bài. Học viên chỉ không được sử dụng Ngân hàng đề, không được trao đổi và các tài liệu khác hai loại được sử dụng nêu trên.
Các hình thức đánh giá kết quả học tập khác: Học viên được tổ chức diễn án, thi hùng biện và thực hành tại Trung tâm thực hành nghề luật.
Mặc dù mô hình đào tạo nghề nghiệp là một loại hình đào tạo mới ở Việt Nam, song dưới sự quan tâm, lãnh đạo và chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Tư pháp, thời gian qua công tác đào tạo, bồi dưỡng của Học viện Tư pháp đã đạt được những thành tựu nhất định.
Những số liệu nói trên, mặc dù còn khiêm tốn, đã nói lên sự cố gắng rất lớn của Học viện Tư pháp trong điều kiện cơ sở vật chất, biên chế còn nhiều hạn hẹp. Trước nhu cầu của xã hư pháp sẽ tiếp tục phấn đấu với khẩu hiệu “Học viện Tư pháp tạo nên sự khác biệt bởi nguyên lý đào tạo và công nghệ đào tạo của riêng mình” để thực hiện tốt và có hiệu quả nhiệm vụ chính trị được giao.